LÀM VIỆC Ở ĐÂU?

0 No tags Permalink

 

Một năm mới sắp đến. Thật cũng kỳ lạ, việc khởi đầu hay kết thúc một năm đều do con người đặt ra; ngày đầu năm hay cuối năm thì nói cho cùng cũng không có gì khác với những ngày khác mà sao trong lòng ai cũng thấy bồi hồi. Năm mới sắp đến, sẽ mở màn cho những dự định mới, hy vọng mới và cả những toan tính mới. Tùy theo tính chất công việc, suy nghĩ của mỗi người trong năm mới chắc cũng có nhiều điều khác nhau.

Ngôi trường tôi đang làm việc và đã gắn bó với nó hơn 20 năm qua có một đặc thù là sinh viên chỉ học 4.5 năm (chứ không phải 4 hay 5 năm như nhiều trường khác). Vì vậy, tháng 11-12 là thời kỳ sinh viên tốt nghiệp, chuẩn bị đi tìm việc làm. Nhìn chung, sinh viên tốt nghiệp trường tôi thường khá dễ dàng khi tìm việc và công việc thường có thu nhập khá. Việc sinh viên năm trước còn đi xe đạp, năm sau đã đổi xe máy đời mới là chuyện không hiếm gặp. Các em còn may mắn là tốt nghiệp vào thời kỳ kinh tế phát triển nên có nhiều sự lựa chọn trong công việc. Chính vì vậy, sinh viên FTU bên cạnh việc được công nhận là có năng lực, thì cũng nổi tiếng vì tính không ổn định. Chuyện một cựu sinh viên FTU một năm nhảy đến 2-3 công ty cũng là chuyện không hiếm gặp. Khi hỏi chuyện, các em thường đưa ra các lý do như: không hài lòng với tiền lương, cơ hội thăng tiến hay đơn giản là không thích môi trường làm việc! Nhìn các em đôi khi tôi cũng chạnh lòng khi nghĩ đến bản thân, 22 năm không một lần dám “dứt áo ra đi”! Đúng là thời thế đã thay đổi và tôi mừng cho thế hệ trẻ đã có được những cơ hội để tự do thể hiện hết khả năng của mình. Nhưng đôi khi, những tin tức từ những sinh viên cả cũ và mới cũng làm tôi suy nghĩ.

Dù hầu hết các em đều tìm được những công việc mà không ít người mơ ước, nhưng rất ít em hài lòng với nó. Có vẻ là số sinh viên thành đạt tăng lên, nhưng số những em cảm thấy hạnh phúc thì lại giảm xuống. Những người có lương cao thì mơ ước nơi khác lương cao hơn, hoặc nhàn hơn. Những người thăng tiến nhanh thì lại phàn nàn vì môi trường làm việc lạc hậu, không biết đãi ngộ người tài! Phải công nhận là những phàn nàn của các em đều ít nhiều có cơ sở. Vì vậy, những sinh viên có cơ hội đi du học thường không có ý định quay về làm việc ở Việt nam, ít ra là trong tương lai gần. Thời gian gần đây, sau khi Việt nam gia nhập WTO, cùng với việc ngày càng nhiều các công ty nước ngoài đến kinh doanh ở Việt Nam thì cơ hội ra nước ngoài làm việc cũng ngày càng nhiều hơn. Một cựu sinh viên của tôi đã thổ lộ ý định muốn qua Singapore hay Hàn Quốc làm việc, vì theo em là sống ở Việt Nam chán quá: môi trường ô nhiễm, thực phẩm không vệ sinh, tham nhũng lan tràn, người tài không được đãi ngộ đúng mức,… Tôi rất khó nghĩ khi trả lời em. Nếu tôi lên lớp em những chuyện như cống hiến cho đất nước hay trung thành với Tổ quốc, thì chắc em sẽ chẳng để vào tai. Em cũng đã gần 30 tuổi, xét về mặt tiền bạc thi em thành đạt hơn tôi nhiều, chắc chắn em cũng có những cân nhắc riêng của mình. Bản thân tôi cũng không cho người đi làm ở nước ngoài hay định cư ở nước ngoài là không hay kém yêu nước hơn người ở lại trong nước. Nhưng những lý do em đưa ra tôi thấy không ổn chút nào… Cuối cùng, tôi chỉ cung cấp cho em những thông tin về cuộc sống vất vả, hạn hẹp trong giao tiếp xã hội, hạn chế trong cơ hội thăng tiến, nỗi buồn tủi vì xa nhà … của những người Việt sống xa Tổ quốc để em cân nhắc. Theo tôi, dù môi trường sống ở nước ngoài có nhiều ưu việt hơn nhưng cũng không phải là thiên đường, nhất là không phải là thiên đường cho người nhập cư, dù với hình thức nào! Hơn nữa, nếu ra đi mà không tính chuyện trở lại chỉ vì đất nước kém phát triển thì tôi cảm thấy bất nhẫn thế nào đó. Cho đến hôm nay, tôi đọc được bài này trên blog VMC và cảm thấy có lẽ đó là câu trả lời tốt nhất cho các sinh viên đang băn khoăn trong việc tìm chỗ đứng trong xã hội, và cho cả tôi, khi muốn đưa ra một lời khuyên cho các em. Câu chuyện như sau:

PHẨM GIÁ ĐÀN ÔNG

Anh là học sinh giỏi, được chính quyền Việt Nam Cộng hoà cử đi du học ở Hoa Kỳ. Đang học năm thứ ba thì Sài Gòn sụp đổ. May mà ba má anh tình cờ có mặt ở Hoa Kỳ đầu năm 1975, thấy tình hình bất ổn, họ nấn ná ở lại Mỹ. Lúc đầu họ thấy áy náy không yên, nhưng đến khi Sài Gòn thất thủ, thì họ thở phào nhẹ nhõm. Số phận đã run rủi họ tránh khỏi những bất trắc.

Ba má anh không dính dáng gì đến bộ máy chính quyền. Họ chỉ là những trí thức có chút danh tiếng. Miền Nam lọt vào tay cộng sản Bắc Việt khiến họ buồn rầu, nhưng rồi cũng phải tất bật thu xếp để bắt đầu một cuộc sống mới nơi đất khách quê người, nên không ai còn thời gian để sầu muộn.

Riêng anh, anh quyết định “delete” mọi ký ức về mảnh đất nơi mà anh đã sinh ra ở bên kia đại dương. Quyết không nghe, không nói, không biết, không vương vấn gì nữa. Ở vào tuổi 20, việc đó hoá ra làm cũng không khó lắm.

Anh luôn khẳng định mình là người Mỹ. Anh lập gia đình với một cô gái gốc Việt cũng có hoàn cảnh tương tự. Họ sinh con, đi làm ở sở Mỹ, sinh sống với người Mỹ, sống cuộc sống Mỹ. Anh quên hết. Và cảm thấy thoải mái với sự lựa chọn của mình.

Thế rồi đến đầu thập niên 1990, tự nhiên anh thấy phải thay đổi môi trường làm việc và xin vào làm cho một công ty Nhật Bản. Một ngày kia, sếp anh từ Tokyo gọi điện sang Mỹ cho anh: “Tran-san, anh là người Việt Nam đúng không?”. Anh thờ ơ đáp: “Tôi là công dân Mỹ, thưa ông”. “Nhưng anh là người gốc Việt mà. Ngay cả họ tên anh, anh đâu có đổi qua tiếng Mỹ”, sếp gặng. “Vâng, tôi đã là người Việt” – anh nhấn mạnh từng chữ.

Hoá ra công ty có một dự án từ thiện ở Việt Nam. Chẳng có ai biết tiếng Việt cả. Mà ở đó người ta nói tiếng Anh không tốt lắm. Tiếng Nhật lại càng không có ai. Sếp muốn anh tham gia vào dự án. Chỉ vài ba lần đi sang đó, chứ không phải là làm dài hạn. Không thể từ chối, anh đành gật đầu đồng ý.

Anh bay từ Mỹ đến Tokyo. Từ Tokyo đến Bangkok, nằm ở đó cả tuần lễ để xin visa vào Việt Nam và cuối cùng lên chiếc máy bay của Vietnam Airlines do Liên Xô sản xuất bay sang Sài Gòn. Khi máy bay bắt đầu hạ độ cao, anh ngó qua cửa sổ nhìn xuống. Những cánh đồng bạt ngàn chằng chịt kênh rạch, những ngôi nhà lúp xúp ken chặt vào nhau. Anh nhắm mắt. Không thấy có bất cứ cảm giác nào. Anh tự thấy hơi kỳ lạ.

Tân Sơn Nhất bé nhỏ, nhếch nhác và quê mùa khiến anh càng thêm tủi. Anh xách hành lý lên chiếc Toyota mà người Nhật mua sẵn cho dự án và đi đến một tỉnh không rõ cách Sài Gòn bao nhiêu cây số, chỉ biết mất đến nửa ngày đường chạy xe qua vài ba cái phà và thấy hết cuộc sống đầy khó khăn của những người phải ở lại.

Nơi anh đến là một trung tâm điều dưỡng dành cho những nạn nhân chiến tranh. Dự án mà công ty anh làm là cung cấp chân giả cho những người lỡ đạp phải mìn, hoặc bị dính bom. Công việc của anh cũng không nặng nhọc lắm, chỉ là dịch những câu hỏi và trả lời giữa chuyên gia chỉnh hình của Nhật với các nạn nhân, nhân viên của trung tâm và các quan chức địa phương. Nói chung, họ đều tử tế và đều tỏ ra biết ơn các chuyên gia Nhật.

Hầu như không ai biết anh là người Việt, người ta gọi anh theo kiểu Nhật là Tran-san. Anh cũng chẳng có ý định tiết lộ điều đó với mọi người. Anh nói tiếng Việt không còn rành nữa, nhiều khi phải căng tai lên để nghe và phán đoán những điều mà người dân miền Trung nói.

Một ngày đã gần tới cuối chuyến đi, lúc anh đang đứng tiểu tiện ở nhà vệ sinh của Trung tâm thì có tiếng lọc cọc đi tới. Một người đàn ông có dáng đi ngật ngưỡng bước đến đứng cạnh anh và lục tục cởi khuy quần làm cái việc mà tất cả đàn ông đều làm. Người đàn ông vừa tiểu vừa ngửa mặt lên trời mắt nhắm nghiền và thở ra một tiếng khoan khoái. Anh nhìn mặt anh ta và có cảm giác sờ sợ về một sự biến thái nào đó.

Người đàn ông đột nhiên nói bằng giọng Sài Gòn khiến anh hiểu rất rõ ràng: “Chu cha, thiệt là sướng!”. Anh giật mình hỏi lại: “Ông nói sao?”. “Anh hổng thấy sao? Tui đang sướng nè. Lần đầu tiên sau 15 năm tôi được đái… đứng nè!”. Anh bất giác nhìn xuống dưới và thấy người đàn ông đang đứng trên đôi chân giả. Những chiếc chân mà công ty anh mang từ Nhật sang và các chuyên gia chỉnh hình chật vật lắp cho từng người trong những ngày qua.

Những người chỉ mất một chân thì dễ hơn. Đằng này, người đàn ông này mất cả hai chân, một bên mất đến cẳng chân, một bên mất đến bắp đùi. 40 tuổi mới chập chững đi lại những bước đi đầu tiên và vẫn còn cần đến một cái gậy để chống. 40 tuổi mới lại được thực hiện cái động tác đặc quyền của đàn ông là… đứng đái.

Thốt nhiên anh thấy vỡ lẽ ra nhiều điều. Anh theo người đàn ông đi nhậu để mừng đôi chân mới. Anh ta dẫn anh về nhà, gặp chị vợ cũng 4 đứa con lít nhít. Nhà họ chẳng có gì ngoài những tiếng cười. Cả nhà coi anh là ân nhân của họ. Và lần đầu tiên sau hơn 15 năm anh mới có lại được cảm giác thân thuộc, cảm giác được là một phần của cái cộng đồng, của mảnh đất mà anh đã bỏ đi.

Cái cảm giác ấy theo anh trở về Tokyo. Anh nói với sếp: “Chương trình từ thiện của ông ở Việt Nam còn kéo dài bao lâu?”. Ông nói: “Chúng ta cần mang tới đó 100.000 chân giả. Mỗi chuyến đi chỉ giải quyết được 2.000 trường hợp. Tran-san, anh có thời gian và ý nguyện không? Chúng tôi rất cần anh ở đó”. “Tôi đi được”, anh đáp ngắn gọn.

Và anh lại trở về. Lần này thì cảm giác xa lạ không còn nữa. Anh muốn mang lại cái niềm vui giản dị và nhỏ nhoi như của người đàn ông kia cho nhiều người khác. Và suốt từ đó đến nay đã hơn 15 năm, anh hầu như không còn rời xa Việt Nam.”

 

Vậy đấy, các em sinh viên của tôi, bạn đọc blog này và cả bản thân tôi nữa! Mỗi khi chúng ta không hài lòng với  công việc của mình, với những đãi ngộ mình nhận được; băn khoăn trước việc đi hay ở lại đất nước, hãy nghĩ đến người đàn ông trong câu chuyện này. Hãy tự do làm điều mình muốn vì “Mọi con người sinh ra đều có quyền tự do mưu cầu hạnh phúc” như Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ đã tuyên bố hơn 200 năm trước đây. Hãy cố gắng giành lấy cơ hội tốt nhất để cải thiện cuộc sống  của mình, nhưng dù bạn ở đâu hay làm nghề gì, hãy cố gắng để giúp đỡ cho đất nước, cho đồng bào của mình. Và như vậy, bạn sẽ biết đánh giá đúng những gì mình đang có và sẽ hạnh phúc hơn!

 

Lấy chồng….

Khi còn nhỏ, như mọi cô gái ngốc nghếch khác, mình cũng yên trí là phải lấy chồng, dù chả biết tại sao phải lấy hay lấy thì vui hay buồn. Đến tuổi đọc tiểu thuyết (mình trốn bố mẹ đọc rất nhiều tiểu thuyết lãng mạn) nên nghĩ là chỉ lấy người mình yêu, mà đã yêu thì quyết vượt qua mọi trở ngại  để lấy bằng được, yêu mà không lấy được chắc chỉ còn nước chết. Đến khoảng 16 tuổi mới phát hiện ra, muốn lấy chồng phải có người yêu mình, hay ít ra muốn lấy mình. Phát hiện ra có một nỗi sợ rất lớn và rất mới là: “Lỡ không ai yêu mình, không ai muốn lấy mình thì sao?”. Đến 17 tuổi phát hiện ra ngay cả khi có người yêu mình, muốn lấy mình, mình cũng không lấy được, (chán thế đấy). Từ năm 18 – 24 tuổi, thấy hóa ra cái khó lại là không biết nên lấy ai? Đặc biệt, năm 24 tuổi phát hiện ra lấy chồng không phải là việc mình “muốn làm” mà là “phải làm” để hai cụ thân sinh và một “đối tượng” nào đấy yên lòng (và sẽ để cho mình yên). Từ năm 24 đến năm 40, thấy lấy chồng là một việc đúng đắn vì có người cùng chịu đựng 2 tiểu quỷ này. Sau năm 40, khi có phát hiện “động trời” là hóa ra không cần chồng cũng có con mà lại không phải tranh chấp “chủ quyền” trong việc nuôi dạy, thấy hóa ra không nên lấy chồng chút nào!

Bây giờ thì chả biết nên nghĩ thế nào về chồng? Không biết nên khuyên người khác lấy chồng hay không? Đọc bài này của Lê Hoàng thấy hay hay. Tất nhiên ông ta dù rất đanh đá nhưng vẫn không phải đàn bà nên nói chỉ vui chứ không chính xác. Hơn nữa bác ta lại dừng ở tuổi 34 nên không ứng với mình được. Nhưng dù sao đọc cũng rất thú vị! Ở Việt nam, thế là may lắm rồi!

Lúc phụ nữ 16 tuổi, nhất định không được lấy chồng vì lấy ai kẻ đó sẽ vào tù

Khi 17 tuổi, phụ nữ đừng lo lấy chồng mà nên lo tìm trâu để bẻ gãy sừng, mặc dù sừng bẻ xong chả biết dùng làm gì.

Lúc 18 tuổi, phụ nữ được gọi là teen. Teen phải nhanh chóng trở thành hot girl chứ chớ dại hot chồng.

Khi 19 tuổi, phụ nữ thường xem phim truyền hình Hàn Quốc và phát hiện ra những ông chồng sau này đều bị ung thư. Vậy lấy làm chi cho mệt.

20 tuổi, không xem phim Hàn Quốc nữa mà xem phim Mỹ. Phát hiện ra chồng phần lớn là tội phạm. Lấy sẽ ra tòa.

21 tuổi chả xem phim Hàn, chả xem phim Mỹ mà xem phim Việt Nam. Bàng hoàng khi phát hiện ra lấy chồng nghĩa là sẽ có mẹ chồng. Mà mẹ chồng luôn luôn gian ác.

22 tuổi, băn khoăn giữa chồng dễ thương và chồng đẹp trai. Cuối cùng không lấy ai cả.

23 tuổi mê một chàng trai hát hay. Lúc sắp cưới mới ngã ngửa người khi biết phần lớn chàng hát nhép. Thế là hủy bỏ hôn nhân.

24 tuổi yêu một chàng trai thông minh. Sắp cưới thì dừng lại, tự hỏi tại sao thông minh mà nghèo.

25 tuổi yêu một chàng trai là con ông lớn. Sắp cưới thì tạm hoãn khi biết bạn mình yêu được một anh con ông lớn hơn.

26 tuổi chả quen ai cả. Ngồi nhớ lại những mối tình học trò. Tự an ủi là tình học trò chả bao giờ thành công.

26 tuổi rưỡi ngồi nhớ lại những mối tình sinh viên. Toát mồ hôi vì hồi đó suýt nữa sống thử.

27 tuổi quen một anh hiền lành, gia giáo, con nhà tử tế. Định cưới thì ngần ngừ vì anh ấy không có nhà. Đó là chưa kể mấy lần đi phụ dâu cho đứa bạn, thấy cô dâu sau đám cưới đếm phong bì thường khóc.

28 tuổi cương quyết lấy chồng. Nhưng đi đâu cũng gặp những đàn ông cương quyết không lấy vợ.

29 tuổi gặp anh này thì chê già quá, gặp anh kia thì kêu trẻ quá. Những anh chấp nhận được thì có vợ rồi.

30 tuổi quyết tâm gặp ai cũng lấy. Nhưng ai cũng bảo chỉ muốn làm bạn thôi, đừng vội vàng tiến xa hơn.

31 tuổi tuyên bố hạnh phúc khi độc thân, sung sướng khi thấy bạn bè ly dị. Cười nhếch mép khi gặp những bạn trai gầy ốm ngày xưa.

32 tuổi đi du lịch, học ngoại ngữ, xách cặp da. Nói tới nhân loại, đến thế giới, đến cải cách xã hội. Không nói tới chồng.

33 tuổi lên chức trưởng phòng. Nhìn đàn ông nghiêm khắc. Cáu gắt với mùi thuốc lá, mùi rượu. Thích kem dưỡng da. Thích nghe nhạc Trịnh. Không thích đàn ông.

34 tuổi. Ngồi bar một mình. Hút thuốc. Tự trả tiền rượu. Gặp đàn ông cười khẩy. Khuyên bạn bè ly dị chứ đừng chịu đựng.

35 tuổi. Đi thẩm mỹ viện. Đẹp như hồi 18 tuổi. Yêu các chàng trai tuổi teen.

Hậu quả là …..

Theo bạn, hậu quả là gì? Và nên làm thế nào?

 

 

alt :

No Comments Yet.

Leave a Reply

Your email address will not be published.